TRANG CHỦ
    GỐM CỔ GÒ SÀNH
    BẢO TÀNG GỐM GÒ SÀNH
      - Gốm Thờ Tự
      - Gốm Ngự Dụng
      - Gốm Thương Mại
      - Hoạt động và sự kiện
    TƯ LIỆU VÀ NGHIÊN CỨU
    BÌNH ĐỊNH XƯA VÀ NAY
      - Võ Nghệ
      - Ẩm Thực
      - Văn Học
      - Âm Nhạc
    TỪ TRONG DI SẢN
    ẢNH GOSANH.VN
    VIDEO
    LIÊN KẾT
 Khách Thăm: 000857466
< d>
< d>
< d>
< d>
< d>
 
Trần Văn Kỷ - người hạnh thần tri kỷ của Quang Trung
17.08.2007 06:05 - 1920

Xem hình
Bảo tàng Quang Trung
Thời Tây Sơn, có một người được quan Binh bộ thượng thư kiêm tổng tài Quốc sử quán Ngô Thì Nhậm vô cùng nể trọng. Trước người ấy, một Ngô Thì Nhậm tiếng tăm lừng lẫy trong Việt ngoài Hoa mà tự nhận mình thấp thỏi đứng ngóng non cao: Thạc phu tân quốc cụ chiêm, hề khánh cao sơn chi kiều ngưỡng (1). Hồi Quang Trung còn đang tại thế, người ấy được vua yêu như bạn, kính như thầy, cho tham dự mọi việc cơ mật, sự ưu ái phải kể là tột đỉnh. Thế mà vừa mãn tang Quang Trung ít lâu, tức là vào năm Ất Mão 1795, quan Đại tư đồ Võ Văn Dũng tình cờ thấy người ấy ở một trạm binh trên đường thiên lý, áo đại thần đã thay bằng áo lính, râu tóc phôi pha sương gió. Lòng luống bời bời, vị võ quan vội xuống ngựa vái chào người ấy. Đó là quan chính đương triều Trần Văn Kỷ (2), vừa bị Cảnh Thịnh giáng chức lưu đày.

Trần Văn Kỷ người làng Vân Trình (tục gọi là làng Rào), xã Phong Điền, huyện Hương Trà, xứ Thuận Hóa. Quê hương ông lân cận kinh đô Phú Xuân của Đàng Trong, cái kinh đô mà quân Trịnh dưới sự chỉ huy của Hoàng Ngũ Phúc đã chiếm đóng từ năm 1775 và biến thành một trấn thuộc Đàng Ngoài. Năm 1777, Trần Văn Kỷ đậu giải Nguyên ở Phú Xuân; năm sau (1778), ông ra Thăng Long thi Hội. Theo Hoàng Lê nhất thống chí, trong dịp này, ông có giao du với một số sĩ phu Bắc hà, Gia phả họ Nguyễn Huy xã Trường Lưu, huyện La Sơn, xứ Nghệ An thời ấy còn ghi lại Trần Văn Kỷ đã tìm đến yết kiến quan Thái bảo Nguyễn Nghiễm, hỏi đến nhân tài nước Nam, và được ông này trả lời khá cặn kẽ (3).

Kỳ thi năm ấy, Trần Văn Kỷ không được dự bảng vàng. Ôm một mớ kiến thức thu được từ kinh đô phồn hoa và muôn dặm đường trường, người học trò phương Nam lặng lẽ ra về, biết rằng biển học còn rất mênh mông. Dĩ nhiên người ta không muốn lục dung một kẻ sĩ ở tận vùng biên ải mà "Chúa nghĩ rằng... là xứ vừa mới dẹp yên"(4).

Suốt những năm đó. Đàng Ngoài thiên tai liên miên, dân đói to. Giá một hộc gạo lên đến một tiền, ở Nghệ An người đói nằm chết chồng chất trên đường(5). Thuận Hóa không phải là ngoại lệ. Quê nhà Trần Văn Kỷ mấy năm liền thiệt người hao của vì lụt lội liên tiếp. Tương truyền, ông đã vận động dân làng trồng cừa hai bên sông ngăn nước lũ cuốn phù sa. Đến nay hàng cừa ấy đã thành cổ thụ(6).

Kể từ ngày vỡ mộng đăng khoa, Trần Văn Kỷ đã sống thu mình như một viên ngọc khuất lấp bởi thời cuộc ngót 8 năm. Trong cuộc đời ông, cuộc tiến binh này của Nguyện Huệ có ý nghĩa của một đợt mưa rào dội sạch thứ bụi bặm lưu cữu. Vị vua tương lai của dân tộc, lúc ấy còn là một tướng lĩnh rất trẻ, đã cho người ta tìm đến tận nhà người danh sĩ mời ra gặp mặt. Giữa cái ngổn ngang của một không gian vừa qua chinh chiến chưa kịp sắp xếp lại đã diễn ra cuộc hội kiến lịch sử giữa hai nhân vật mà sự phối hợp của họ sẽ đưa đất nước đến một chân trời rạng rỡ.

Nguyễn Huệ ân cần mời Trần Văn Kỷ cộng sự với mình. Trần bằng lòng. Lập tức, Bắc bình vương phong ngay cho Trần chức Nội tán để tỏ lòng luyến dụng và mang theo trong quân, ngày đêm gần gũi.

Sau khi làm sáng nghĩa tôn phù, Nguyễn Huệ được vua Lê phong cho chức Đại nguyên súy và gả chúa Tiên Ngọc Hân. Sau đó vua Hiển Tông mất, "Nguyễn Huệ đích thân hộ tang đến bờ sông và nhờ Văn Kỷ mặc áo trắng tiếp tục hộ tống cho đến Thanh Hoa" (Lê triều dã sử).

Sau chiến thắng quân Trịnh và việc nêu cao danh nghĩa tôn phù nhà Lê, sự chu đáo lễ nghi đã nâng cao thêm uy tín của Nguyễn Huệ trên đất Bắc. Nguyễn Huệ trong khi cảm nhận điều đó với niềm tự hào chính đáng, hẳn không quên công lao của người cộng sự mới. Về lại Phú Xuân, ông thăng cho Trần Văn Kỷ chức Trung thư lệnh, tước Kỷ thiện hầu. Qua việc này, vị lãnh tụ trẻ tuổi đã mặc nhiên công nhận Trần Văn Kỷ là mưu sinh của mình.

Năm 1786, Nguyễn Huệ có trong tay một lực lượng quân sự hùng mạnh. Khi ông từ miền Bắc về cai quản Phú Xuân, hầu hết các tướng lĩnh giỏi của phong trào Tây Sơn đã theo về phò tá: Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Ngô Văn Sở, Đặng Xuân Phong, Võ Đình Tú..., cũng cần phải tính cả Vũ Văn Nhậm nữa.

Vấn đề trước mắt hồi bấy giờ là phân định cương vực, lãnh thổ. Nguyễn Nhạc với tư cách là lãnh tụ cao nhất của phong trào Tây Sơn và là anh cả đã tự cho mình có quyền quyết định. Nhà sử học Pháp Charles B. Maybol viết: "Tháng 5 âm lịch (14/06/1787), ông ta - tức Nguyễn Nhạc - giao các trấn ở Bắc Hải Vân cho Huệ với tước Bắc bình vương, giao các dinh phía Nam cho Lữ với tước danh Đông định vương. Cuối cùng, ông giữ các dinh từ Quảng Nam đến Bình Thuận với Quy Nhơn là kinh đô và tự xưng là Trung ương Hoàng đế(7)".

Nhưng Nguyễn Huệ không bằng lòng sự phân định đó. Hầu hết các sử liệu liên quan đến nhà Tây Sơn đều nhắc tới việc xích mích nghiêm trọng giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ. Sự bất hòa đã dẫn tới việc nói chuyện bằng quân sự giữa họ vào tháng 06/1787. Tuy nhiên tình ruột thịt đã khiến hai anh em nhìn nhau khóc giữa chiến trận rồi giảng hòa. Nguyễn Huệ thẳng thắn đặt vấn đề với vua anh về quyền lợi chính đáng của mình, căn cứ vào những cống hiến lớn lao mà ông đã có trong quá trình khởi nghĩa. Cuối cùng, "Huệ đạt được mọi điều mong muốn và biên giới phía Bắc của vùng đất thuộc quyền Nhạc là Quảng Ngãi"(8).

Về sự kiện này, sách Tây Sơn thủy mạt khảo, cũng phản ánh kết quả như trên, nhưng chua thêm rằng "Đấy là mưu kế của tên Trần Văn Kỷ, là người hạnh thần của Nguyễn Huệ bày ra"(9).

Sự tham mưu này của Trần Văn Kỷ rất có giá trị. Làm chủ Quảng Nam trù phú, Nguyễn Huệ sẽ có một hậu thuẫn kinh tế dồi dào, thay vì chỉ có miền Thuận Hóa đất hẹp, dân nghèo, thường xảy ra thiên tai, mất mùa. Về mặt quân sự đất Quảng Nam sẽ là tiền đồn cho Phú Xuân, từ đây có thể đón trước và ngăn ngừa mọi sự tấn công từ phía Nam ra kinh đô chính. Thêm vào đó dân số Quảng Nam cộng với dân số Thuận Hóa là nguồn nhân lực cung ứng cho quân đội khi có chiến tranh.

Năm 1787, nhà Thanh vin vào sự cầu cứu của Lê Chiêu Thống, đã sai Tôn Sĩ Nghị "thăm dò" nước ta để can thiệp. Vốn nhiều tham vọng, Tôn Sĩ Nghị đã dẫn 29 vạn quân xâm lược nước ta. Nguyễn Huệ được tin cấp báo, liền lên ngôi Hoàng đế ở Phú Xuân và cất binh ra Bắc đánh giặc(10). Trong bộ tham mưu mà ông đưa theo không thể vắng mặt Trần Văn Kỷ. Hoàng Xuân Hãn đã chứng minh điều đó qua một bức thư của Trần Văn Kỷ gửi cho La Sơn phu tử năm 1789.

Ngay từ khi còn là một viên tướng trẻ, chưa đặt chân ra đất Bắc, Nguyễn Huệ đã có ý thức cầu hiền. Ông đã từng tha cho Nguyễn Đăng Trường, một văn thần giỏi giang của chúa Nguyễn vì tiếc người tài.

Lòng tha thiết cầu hiền của Nguyễn Huệ còn thể hiện qua việc ông tìm Trần Văn Kỷ ngay khi lấy được Phú Xuân từ tay quân Trịnh và về sau này sẽ còn có dịp bày tỏ trong nhiều trường hợp khác.

Chính Trần Văn Kỷ đã khuyên và giúp Nguyễn Huệ kiên trì cầu Nguyễn Thiếp, một ẩn sĩ có "đạo học sâu xa", lập làm thầy mà thờ. Chính Trần Văn Kỷ đứng ra bảo cử Ngô Thì Nhậm năm 1788, bàn với Quang Trung nên đại dụng họ Ngô. Riêng qua hai trường hợp này, đủ thấy đức độ Trần Văn Kỷ. Ông biết lượng mình, chịu nhún trước người cao trọng hơn, chịu nhường trước người tài giỏi hơn. Ông dốc lòng tìm nhân tài giúp chúa, không đố kỵ, không sợ lu mờ trước hào quang của kẻ khác. Một người như thế, làm sao Nguyễn Huệ không tin cậy và hết dạ mến yêu?

Trên phương diện giao dịch thư từ, chế tác các văn bản nói chung, tài học của Trần Văn Kỷ đã làm vẻ vang rất nhiều cho vua Quang Trung. Nhà sử học Hoàng Xuân Hãn đã được đọc nguyên văn những thư từ trao đổi giữa Nguyễn Huệ với La Sơn phu tử qua nhiều thời kỳ khác nhau và quả quyết rằng không phải do một người viết. Theo ông, ba bức thư cầu hiền và bức thư sau này Nguyễn Huệ trách La Sơn phu tử cố chấp "lời lẽ thật là thống thiết, lý luận chặt chẽ, cách lập ngôn thật là khéo léo" là do Trần Văn Kỷ phụng thảo(11).

Sau khi đánh tan quân Thanh, vua Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích phụ trách việc đối ngoại với nhà Thanh rồi về Phú Xuân. Phía Nam Nguyễn Ánh liên tục uy hiếp triều đình Nguyễn Nhạc và trên thực tế đã chiếm được Gia Định (mùa xuân năm 1789). Từ 1789 đến 1792, Nguyễn Ánh thường lợi dụng gió mùa đánh ra Bình Thuận, Phú Yên, Quy Nhơn. Trong tình hình đó, Trần Văn Kỷ đã tích cực tham mưu cho vua Quang Trung chương trình diệt trừ quân Nguyễn Ánh(12).

Giữa lúc việc chuẩn bị đánh Nguyễn được tiến hành một cách quy mô và gấp rút thì vua Quang Trung bất ngờ lâm bệnh.

Trần Văn Kỷ đã có mặt bên vị minh chúa mà mình yêu quý hơn cả bản thân suốt những ngày Quang Trung đau yếu và hấp hối. Ông và Trần Quang Diệu đã thay mặt triều thần, nhận mệnh thác cô của Quang Trung: “Sau khi ta chết nên trong một tháng táng cho xong. Việc tang làm qua loa mà thôi. Các người nên giúp rập Thái tử và sớm dời đô ra Nghệ An để khống chế thiên hạ…”(13).

Suốt quãng đời còn lại, Trần Văn Kỷ đã làm theo lời ủy thác đó của Quang Trung.

Là quan thụ chính của vị vua nối nghiệp Quang Trung, Trần Văn Kỷ ở vào một cương vị nghe chừng còn quan trọng hơn trước. Với cương vị đó, nếu có điều kiện, thì bằng vào khả năng của mình, ông hoàn toàn có thể giúp vua kế tục sự nghiệp tiên đế một cách có hiệu quả. Nhưng Cảnh Thịnh còn quá trẻ và quyền hành lại rơi vào tay người cậu ruột của vua là Bùi Đắc Tuyên.

Biết Trần Văn Kỷ không ủng hộ mình, Bùi Đắc Tuyên dần dần tách vua ra xa quan phụ chính. Trên thực tế những chương trình của Trần Văn Kỷ bị Tuyên vô hiệu hóa. Trần Văn Kỷ đành ẩn nhẫn với hy vọng một ngày kia, vua Cảnh Thịnh trưởng thành và tỏ rõ bản lĩnh của mình.

 
Trống trận Tây Sơn - Ảnh: Nguyễn Vĩnh Hảo

Ở phía Nam, Nguyễn Ánh thừa cơ nhà Tây Sơn lục đục, tấn công rất dữ. Bùi  Đắc Tuyên, để trị Lê Văn Hưng về việc thay đổi thái độ với mình, đã xin vua cử Hưng vào chiến trường Phú Yên. Hưng thắng trận, giao cho tướng khách giữ thành rồi kéo về kinh báo tiệp. Tuyên phao cho Hưng tội mưu phản, tâu vua chém đầu răn dân chúng. Biết bạn oan, Ngô Văn Sở xin tội nhưng Tuyên gạt đi. Quan phụ chính Trần Văn Kỷ can thiệp. Tuyên nổi giận giáng chức làm lính, bắt Trần ra coi trạm Hoàng Giang. Chưa hả giận, Tuyên còn đẩy Ngô Văn Sở ra Thăng Long và gọi Võ Văn Dũng về triều. Trên đường về, Võ Văn Dũng đã gặp lại cố nhân trong thân phận bi đát như trên.

Vốn tin và trọng nhau, Võ Văn Dũng ở lại với Trần một đêm. Trần Văn Kỷ đã kể mọi sự, ân cần nhờ Võ xốc lại gánh non sông đang hồi bị xô lệch. Kỷ nói: “Thái sư vị cực nhân thần, làm càn uy phúc, sắp sửa có việc không lợi cho nước nhà. Nếu ông không sớm lo, thì về sau ăn năn không kịp”(14). Nghe lời Trần Văn Kỷ, Võ Văn Dũng gấp rút về Phú Xuân, bí mật phối hợp với Thái bảo Nguyễn Văn Huấn(15) bắt Bùi Đắc Tuyên hạ ngục, rồi sai người vào Quy Nhơn bắt con Tuyên là Trụ, ra Thăng Long bắt Ngô Văn Sở giải về. Võ Văn Dũng khép phe đảng Tuyên vào tội phản nghịch, đóng cũi thả trôi sông. Nạn gian thần đã trừ xong. Ngô Văn Sở là công thần, nhưng vì từng thân cận với Bùi Đắc Tuyên nên bị Võ Văn Dũng giết oan.

Năm 1799, thành Quy Nhơn bị quân Nguyễn chiếm, giao cho Võ Tánh và Ngô Tùng Châu giữ. Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng được lệnh Cảnh Thịnh đưa binh vào trấn giữ Quảng Nam. Giữa lúc nước sôi lửa bỏng thì Võ Văn Dũng nhận được chiếu thư bảo giết Trần Quang Diệu. Tây Sơn thủy mạt khảo chép: “Bọn Trần Viết Kết, Hồ Công Diệu và Trần Văn Kỷ ngày càng ghét Quang Diệu, lấy cớ là thành Quy Nhơn thất thủ, mà Quang Diệu đóng quân ở lại (ở Thạch Tân) không làm được công cán gì, rồi giả làm tờ chiếu khiến Vũ Văn Dụng(16) bắt Nguyễn Quang Diệu(17) mà giết đi. Văn Dụng đưa thư cho Quang Diệu xem. Quang Diệu rất lấy làm kinh sợ, liền đưa quân về Phú Xuân, đánh tiếng rằng: bắt giết những đứa nghịch tặc ở bên cạnh vua… Tên Trần Văn Kỷ đổ tội cho tên Trần Văn Kết bỏ trốn, Quang Toản khiến bắt Hồ Công Diệu giao cho Quang Diệu. Khi ấy Quang Diệu mới giải binh vào chầu”(18).

Quyển Nhà Tây Sơn của Quách Tấn và Quách Giao, cùng kể lại với nội dung như trên, nhưng kết quả hơi khác: “Trần Văn Kỷ đổ tội cho Trần Văn Kiết (tức Kết) và Hồ Công Diệu rồi trốn mất. Nhà vua bắt Diệu và Kiết đem nộp cho Trần Quang Diệu”(19).

Xét thời gian ra đời và nội dung của hai tác phẩm, trong sự kiện này tác giả Nhà Tây Sơn đã kế thừa tư liệu của tác giả Tây Sơn thủy mạt khảo, nhưng do nhầm lẫn nên từ chỗ Trần Viết Kết bỏ trốn lại ghi thành “Trần Văn Kỷ bỏ… trốn mất” sau khi đổ tội cho Hồ Công Diệu và Trần Văn Kết.

Chép sự việc trên, Đào Nguyên Phổ không thấy sự mâu thuẫn giữa các tình tiết. Trần Văn kỷ không được Cảnh Thịnh tin dùng, đã từng bị Cảnh Thịnh biếm và đày làm lính do nghe lời Bùi Đắc Tuyên. Bùi Đắc Tuyên lúc bấy giờ đã chết, nhưng Cảnh Thịnh là cháu ruột Tuyên, lại rất thương cậu, không thể tin cậy người đã chủ mưu trừ khử họ Bùi. Sự phục chức cho Trần Văn Kỷ, là vì Cảnh Thịnh sợ Võ Văn Dũng mà làm. Cảnh Thịnh không phải là một vua có đủ đức độ để nhận lỗi và sửa sai một cách chân thành. Trần Văn Kỷ không thể không thấy điều này. Đó là lý do thứ nhất để khẳng định rằng, Trần Văn Kỷ không dính vào việc trên.

Võ Văn Dũng vốn là chỗ thân tình với Trần Văn Kỷ, nếu muốn giết Quang Diệu, thì Trần Văn Kỷ viết mật thư cho Võ Văn Dũng không hơn là gièm pha với Cảnh Thịnh ư? Đó là lý do thứ hai để bác bỏ chuyện trên.

Vào giai đoạn này, có thể giữa Quang Diệu và Trần Văn Kỷ không thông cảm với nhau qua cái chết của Ngô Văn Sở, nhưng ghét bỏ đến mức muốn tiêu diệt nhau là chuyện khó có. Trần Văn Kỷ biết vai trò trụ cột của Trần Quang Diệu trong việc chống đỡ sự nghiệp Tây Sơn, ông không thể làm một việc có thể ảnh hưởng đến sự tồn vong của nhà nước như vậy. Vả chăng bản thân ông từng oan ức vì bị gièm pha, đã thấm thía nỗi đau nhân tình, một nhân sĩ như ông không thể làm cái việc nhỏ nhen là gièm pha Trần Quang Diệu.

Xét toàn bộ hành trạng của Trần Văn Kỷ, ta thấy ông không phải là kẻ hèn nhát. Ông đã từng vào sinh ra tử với Quang Trung. Ông đã can đảm lãnh án đi đày và trong khốn quẫn vẫn tìm cách trừ khử gian thần. Vậy thì việc ông đổ tội cho người khác rồi bỏ trốn để có thể xảy ra không?

Cũng cần thấy rằng Đào Nguyên Phổ viết Tây Sơn thủy mạt khảo với quan điểm của một người ủng hộ triều Nguyễn Gia Long. Ông – Đào Nguyễn Phổ - khó giữ được khách quan hoàn toàn khi viết về các trọng thần Tây Sơn.

Nguyễn Bá Huân, danh nho Bình Định sống vào thế kỷ XIX, đã căn cứ vào các truyền thuyết còn lại trong dân gian Bình Định để viết một loạt tác phẩm về thời Tây Sơn. Trong đó, Tây Sơn tướng chinh Nam truyện(20) đã thuật lại khá chi tiết chuyện Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng đánh Quy Nhơn. Theo diễn biến câu chuyện, ta được biết Trần Văn Kỷ sau đó không ở lại triều cũng không bỏ trốn mà theo Võ Văn Dũng ra trận (1800). Trần Quang Diệu vây thành, còn Võ Văn Dũng thì chỉ huy hải quân đón đánh quân Gia Định tại cửa Thị Nại. Trần Văn Kỷ tham mưu cho Võ Văn Dũng.

Chính ông đã tiên liệu âm mưu đánh úp của quân Nguyễn. Được Võ Văn Dũng giao quyền “điều binh khiển tướng”, ông đã bố trí mai phục, đánh đối phương một trận tơi bời.

Trận đánh do Trần Văn Kỷ chỉ huy đã gây tiếng vang rất lớn khiến nhân dân không thể quên tên ông. Chỉ riêng điều đó cũng đã rửa sạch mối oan mà tác giả Tây Sơn thủy mạt khảo gán cho đấng trung thần.

Giữa lúc Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng vây thành Quy Nhơn thì Nguyễn Ánh theo kế của Võ Tánh tiến đánh Phú Xuân. Cảnh Thịnh rời kinh ra Bắc. Trong số các văn thần võ tướng theo vua mà Tây Sơn thủy mạt khảo, Hậu Lê nhất thống chí kể khá tường tận không thấy có tên Trần Văn Kỷ. Điều này cho thấy việc Trần Văn Kỷ ở Quy Nhơn là có thật. Vì nếu ông có mặt ở Phú Xuân, với tư cách là quan phụ chính trông coi Nội các, ông không thể không tòng giá Cảnh Thịnh khi Nguyễn Ánh đánh vào kinh đô (1801).

Ở Quy Nhơn, nghe Phú Xuân thất thủ rồi lần lượt Nhật Lệ, Trấn Ninh bị quân Nguyễn triệt hạ, vào tháng 03/1802, Võ Văn Dũng và Trần Quang Diệu đã dẫn 3.000 binh và 80 voi trận theo đường thượng đạo sang Lào về Nghệ An. Trần Văn Kỷ chắc chắn có mặt trong quân. Kế hoạch bị lộ dọc đường Võ Văn Dũng và Trần Quang Diệu lần lượt sa vào tay giặc, Trần Văn Kỷ may mắn thoát được.

Tháng 11 năm 1802, Nguyễn Ánh đưa những tù binh Tây Sơn bắt được ra pháp trường. Thịt nát xương tan. Phú Xuân chìm ngập trong không khí ghê rợn của cuộc trả thù đẫm máu.

Trần Văn Kỷ lúc ấy đã tìm về ẩn náu tại quê nhà.

Cái tên Trần Văn Kỷ trong danh sách các đại thần Tây Sơn còn lẩn trốn khiến Gia Long chú ý. Đã từ lâu ông ta nghe danh con người này.

Sứ giả của Gia Long đến tận nhà mời Trần Văn Kỷ đến kinh thành. Nguyễn Đắc Xuân với Nguyễn Huyền Anh, căn cứ vào Gia phả họ Trần ở Vân Trinh và các truyền thuyết trong dân làng Rào, thuật lại: “Giáp mặt Gia Long xong, Trần Văn Kỷ ra bến Tượng xuống đò trở về quê cũ với lời hứa sau khi thu xếp xong việc nhà sẽ trở lại cộng tác với triều đình mới”(21).

Hẳn Gia Long muốn Trần Văn Kỷ trở thành bầy tôi của mình và đã ngỏ lời mời ép, nên Trần Văn Kỷ mới hứa cộng tác. Trần Văn Kỷ thuận theo Gia Long chăng? Hay ông đánh lừa Gia Long để khỏi bị giam cầm trong tay bạo chúa, để được tự do quyết định đời mình?

Con đò đưa ông về làng, ngang ngã ba Sình “ông ra lệnh neo thuyền chính giữa ngã ba sông rồi cho người theo hầu lui vào trong”(22).

Cái ngã ba ấy có ý nghĩa gì không? Chỉ biết rằng đời ông đang ở một ngã ba. Phía sau là quá khứ vẻ vang. Trước mặt là hai lối rẽ: hoặc chấp nhận phụng sự Gia Long để được sung sướng, hoặc…

Từ trên mũi đò, Trần Văn Kỷ lao mình xuống sông tự vẫn(23). Ông đã chọn cái chết để không hổ thẹn với trời đất, không phụ ân tình thắm sâu của Quang Trung Nguyễn Huệ.



(1) Tuyển tập Thơ văn Ngô Thì Nhậm, Nxb Khoa học và xã hội, Hà Nội 1978, Phần Ngọc Đường xuân khiếu, tr.179.

(2) Nguyên tên là Trần Chánh Kỳ, sau được Quang Trung tứ danh thành Trần Văn Kỷ (theo Nguyễn Đắc Xuân).

(3) Hoàng Xuân Hãn, La Sơn phu tử, Minh Tân, Paris 1952, tr.109.

(4) Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb Văn học Hà Nội 1984, tập 2, tr.201.

(5) Phạm Đình Hổi, Vũ Trung tùy bút (Nguyễn Hữu Tiến dịch), Hà Nội 1966, tr.14 - 15.

(6) Theo Nguyễn Đắc Xuân và Nguyễn Huyền Anh, trong Tây Sơn Thuận Hóa những dấu ấn lịch sử. Bảo tàng Tổng hợp Bình Trị Thiên xuất bản 1986, tr.181.

(7) Charles B.Maybol, Histoire moderne du pays d’An Nam 1858 – 1920, Paris 1919 – 1920. Tác phẩm đã được dịch và in trong Phong trào nông dân Tây Sơn dưới mắt người nước ngoài, Nxb Tổng hợp Bình Định, tr.25.

(8) Charles B.Maybol, Histoire moderne du pays d’An Nam 1858 – 1920, Paris 1919 – 1920.

(9) Đào Nguyên Phổ, Tây Sơn thủy mạt khảo, tài liệu đánh máy, tr.11 (Bản lưu tại Bảo tàng Quang Trung).

(10) Theo Hoàng Lê Nhất thống chí, Sđd, tập 2, tr.106 – 107.

(11) Hoàng Xuân Hân, La Sơn phu tử, Sđd, tr.109.

(12) Theo tư liệu của Nguyễn Đắc Xuân và Nguyễn Huyền Anh.

(13) Theo Đại Nam chính biên liệt truyện.

(14) Tây Sơn thủy mạt khảo, Sđd, tr.137.

(15) Hoàng Lê nhất thống chí ghi là Thái bảo Hóa, còn Tây Sơn danh tướng chinh Nam truyện thì ghi là Huấn. Tây Sơn thủy mạt khảo cũng ghi là Nguyễn Văn Huấn. Ở đây chúng tôi theo 2 tài liệu sau.

(16) Tức Võ Văn Dũng, tác giả chép nhầm thành Vũ Văn Dụng.

(17) Tức Trần Quang Diệu, tác giả chép nhầm thành họ Nguyễn.

(18) Tây Sơn thủy mạt khảo, tài liệu đã dẫn, tr.39.

(19) Quách Tấn, Quách Giao, Nhà Tây Sơn, Sđd, tr.214.

(20) Nguyễn Bá Huân, Tây Sơn danh tướng chính Nam truyện, in trong tập Tây Sơn danh tướng anh hùng truyện, tr.171, Ty VH-TT Nghĩa Bình xb năm 1978.

(21) Tây Sơn Thuận Hóa những dấu ấn lịch sử, tr.136.

(23) Theo tư liệu của Nguyễn Đắc Xuân và Nguyễn Huyền Anh. Trần Thị Huyền Trang (Theo Tạp chí Xưa và Nay - Cơ quan hội khoa học lịch sử Việt Nam số 286 tháng 6 - 2007)



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


Những bản tin khác:
IM LẶNG LÀ GÌ? [16.05.2012 17:22]
Chỉ thêu nên gấm [06.03.2009 08:33]



NHỚ MẮM
VÌ SAO BAO TÀNG THIẾU SỨC SỐNG
KIẾN TRÚC TRE VIỆT NAM ĐƯỢC VINH DANH TẠI MỸ
QUÊN NGƯỜI
BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC VỚI QUẢ TIM BẤT DIỆT.
Mắm ruột mà quệt cà giòn...
BIỂN & NỖI NHỚ!
Tản văn cho biển
Nhìn lại nền âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20
TAM QUAN TRONG KIẾN TRÚC VIỆT
Bình thơ: Vua và em - Trần Viết Dũng
Rằm giêng hát bội Phò An
Để “mọi quyền hành, lực lượng đều nơi dân”
"Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên"
Người Bình Định và làng Việt tại Pleiku


© Copyright 2007 - 2021 Gosanh.vn 
BẢO TÀNG GỐM CỔ GÒ SÀNH VIJAYA - CHAMPA - BÌNH ĐỊNH
Địa chỉ: khu du lịch Bãi Dại - phường Ghềnh Ráng - T/P Quy Nhơn - Bình Định.
Điện thoại: 84.0913472778 - 84.0946940666. Email: museum@gosanh.vn